Câu chuyện về nghệ thuật sống đẹp phần 8

Trời đã tối, ông về nhà trong bóng đêm. Một chiếc xe lao qua, trên nóc xe gắn hộp pizza có đèn. Ông nhìn thấy chiếc hộp và nhẩm đi nhẩm lại số điện thoại một cách vô thức suốt chặng đường về. Ông vào nhà qua cửa garage, gọi to “năm, mười, mười lăm, hai mưoi”, chừng như để tự chào đón mình. Ông đi vào bếp với túi đồ nhỏ trong tay, mở tủ lạnh, rồi ngó qua bữa tối của mình - một miếng cá hồi màu cam đã chần nước sôi, đậu xanh, salad cà chua và thì là nướng được bọc bằng màng bọc thực phẩm màu hồng.
Ồng cầm điện thoại Samsung galaxy note 5 2 sim bấm số theo trí nhớ. “Pizza Palace, bánh ăn là thích.”
“Tôi muốn đặt bánh giao đến nhà.”
“Ông muốn cho gì trên mặt bánh? Một loại ba đô, ba loại năm đô, năm loại mười đô. Chúng tôi có nấm, xúc xích cay, hành tây, ót chuông, tỏi, phô mai thường, phô mai mozzarella hun khói, phô mai feta, phô mai sữa dê, phô mai cheddar, phô mai Thụy Sĩ, tỏi tưoi, cà chua khô, cà chua tươi, trái bơ, bông cải xanh, rau diếp xoăn, cải bó xôi, thơm, xúc xích, xúc xích gà tây, đậu hũ, ớt chuông đỏ, ót chuông xanh, ô liu xanh, ô liu đen...”
Trong lúc lắng nghe phần liệt kê nhân bánh, ông lấy một túi đá ra khỏi tủ đông rồi chườm lên chân.
“Loại thường,” ông đáp. “Phô mai thường, và có thể cho bông cải xanh, một ít xúc xích gà tây, rồi cho một chút nấm lên trên.”
Ông kéo quần thấp xuống, nhìn chân mình; nó tấy lên vì nước đá, ửng đỏ vì băng dính, và có màu thâm tím từ vết bầm đang hình thành. Ông nhấn xuống sâu hom, mạnh hon để kiểm tra.
“Ba mươi lăm, bốn mưoi phút. Chỉ nhận tiền mặt, hai mưoi bảy đô tám mươi tám xu. Ông cần thêm gì nữa không ạ?”
“Như là gì?” Ông đi đến cửa sổ, nhìn ra ngoài. Đèn ngoài vườn tự động mở khi tròi tối và đang chiếu sáng ngọn đồi. Cái hố đã rộng hơn một cách rõ rệt.
“Ông quyết định đi.”
“Thế được rồi.” Ông ngừng một chút. “Mà này, anh gọi chơ ai khi phát hiện hố lún, khi mặt đất di chuyển - anh biết không?”
“Ông bạn oi, đây là tiệm pizza, không phải Bộ nội vụ.”
Ông cúp máy rồi gọi 911 - lần này bình thường hơn, không biết đấy có phải là tình huống khẩn cấp hay không. Nếu tối qua không gọi, thì tối nay chắc chắn ông đã không gọi. Phải chăng ông đang cố gắng tái diễn mọi chuyện - dựng lại màn bi kịch?
“Cảnh sát, cứu hỏa, cấp cứu.”
“Cảnh sát,” ông nói, rõ ràng.
“Tình huống khẩn cấp chứ? Tất cả những cuộc gọi không khẩn cấp đều được chuyển về địa phương của bạn. Nếu đây là trường họp khẩn cấp cần cảnh sát giải quyết, xin vui lòng giữ máy.”
câu chuyện về nghệ thuật sống
Một người lên tiếng. “Cảnh sát nghe đây. Bạn muốn báo về vấn đề gì?”
“Có một cái hố ở ngoài nhà tôi; mói đầu nó chỉ là một vết lõm nhưng mỗi lúc một rộng hon và sâu hon. Trông giống như chỗ mà đĩa bay mới hạ cánh, nếu anh tin vào những chuyện như thế.”
Im lặng một lúc. “Và khi ông nhìn vào hố, ông có thấy cái gì chui ra không, như là những người tí hon màu xanh lá cây chẳng hạn? Nghe này, ông bạn, làm on đi mà - đừng bắt tôi phải tốn công ghi chép.”
“Đây không phải là cuộc gọi phá rối, nếu có số điện thoại nào khác mà tôi nên gọi thì làm on cứ nói, nhưng việc này cần phải được trình báo.”
“Ông nói đó là một cái hố phải không?”
“Phải.”
“Vậy ai đào cái hố đó?”
“Chẳng ai đào cả, nó tự hình thành. Đây là vấn đề an toàn công cộng - mặt đất đang lún. Tôi theo dõi nó cả ngày rồi.”
“Chà, bây giờ trời tối rồi; hay là ta đợi đến sáng mai để xem nó còn đó không.”
“Chẳng phải nhiệm vụ của anh là giúp đỡ hay sao? Anh tên gì?”
“Ông định làm gì thế? Khiếu nại tôi à? Cư xử giống ngưòi lớn đi, Richard. Đừng lạm dụng chính quyền.”
Im lặng. “Nếu anh biết tôi là ai, thì anh phải biết cái hố ở đâu.”
“Nghe này, Dick, cảnh sát chúng tôi phải giải quyết hàng tá vấn đề nghiệp vụ - cưóp bóc, trẻ em mất tích, mâu thuẫn gia đình, thi thể có đầu bị đập nát. Hãy gọi điện cho Sở Cao tốc, và đừng nhắc gì đến đĩa bay vói lại ‘nếu anh tin vào những chuyện như thế.’”
“Anh có số của họ không?”
“Gọi 411 ấy, không phải 911.”
Ông gác máy, lấy số, và gọi.
“Đường cao tốc,” một người đàn ông lên tiếng.
Ông báo về vụ cái hố - bỏ qua chuyện đĩa bay. “Nó mỗi lúc một lớn hon.”
“Nó nằm trên phần đất nhà riêng, ở giữa đường, hay trên lộ giới?”
“Nó nằm trên một ngọn đồi.”
“Ông có nhìn thấy nước, nghe thấy tiếng ùng ục không? Có cái gì nổi bong bóng hoặc trào ra từ cái hố không? Ông có cảm thấy mặt đất chuyển dịch hoặc chấn động nào giống như động đất không? Trước đó có sự cố gì không, hoặc có sự thiếu ổn định nào tại khu vực ông ở không?”
“Không có gì hết.”
“Để tôi kiểm tra xem có bất cứ hoạt động gì diễn ra ở khu vực ông không. ”
Trong lúc chờ máy, ông nghe một giọng nữ điềm tĩnh đang bàn về việc nên làm gì trong trường họp có động đất. “... chuẩn bị sẵn túi dự phòng động đất. Đùng quên cho vào đó nước, thực phẩm khô, thức ăn vặt, thuốc men, và các vật dụng khẩn cấp cho thú cưng của bạn. Trong trường họp xảy ra động đất...”
Người nhân viên trở lại đường dây. “Tôi không thấy ghi chú gì trên máy tính, nhưng tôi có thể cử người đến đó. Ông sẽ có mặt ở đó đúng không?”
“Anh sẽ cho người đến bây giờ à?”
“Vâng, thưa ông. Anh ta sẽ đến sớm thôi; tối nay ở Tinseltown cũng không có sự cố gì lớn.”
Richard chờ đợi. Ông đi đi lại lại trong nhà, phóng mắt ra ngoài cửa sổ, nhìn toàn thành phố, lấp lánh như hàng triệu con tàu trên biển. Một giờ sau, người giao bánh pizza gọi cho ông từ trong xe ô-tô của cậu ta, giọng hớt hải. “Tôi cứ nghĩ mình sắp đến noi nhưng rồi lại đi lạc. Tôi đi lòng vòng mất ba mươi phút rồi đấy,” cậu ta nói. “Bây giờ cậu ở đâu?”
“Tôi đang lái xe, lái không nghỉ. Một hồi đến tận Mullholland, tôi cứ cho xe chạy thêm đâu chừng mười sáu cây số, suýt nữa thì lao xuống vực. Mà tôi lại không thể gọi cho ai cả, điện thoại tôi bị mất sóng. ”
“Bây giờ đang ở đâu? Cậu đang nhìn thấy gì?”
“Cây cối, nhà cửa, biển chỉ đường; ở đây có một biển đề Shadow Hill Way. Tôi chạy qua đây rồi, cứ chạy lòng vòng nãy giờ. ”
“Cậu đến đúng rồi - cứ chạy theo lề trái rồi lên đồi.” “Ông đừng cúp máy nhé, khoan cúp máy vào lúc này; hãy ra tín hiệu cho tôi, ông ra tín hiệu cho tôi được không?”
Ông cầm điện thoại đi ra trước nhà. “Cậu bấm còi xem.”
Tiếng còi vọng lên trong điện thoại từ dưói đồi. “Cậu có nghe tiếng còi xe không? Đó là chính là còi của cậu trong loa đấy, cậu đến nơi rồi.”
Chiếc xe giao pizza leo lên đồi; chiếc hộp gắn đèn hiện ra. Richard đứng đó vẫy hai tay, ra tín hiệu như cách làm của các nhân viên hàng không vói những cây đèn màu cam để đưa phi công vào sân đáp.
“Thật là kinh khủng,” anh chàng giao pizza thốt lên, kéo cửa kính xe xuống. “Bánh của ông nguội ngắt rồi.” “Đừng lo.” Ông đưa cậu ta bốn mươi đô-la và cậu ta chuyển hộp bánh qua cửa xe.
Đúng vào lúc đó, một chiếc xe nhỏ màu trắng có đèn chóp tắt màu vàng trờ đến; ánh đèn vàng chiếu vào khắp mọi thứ, phủ lên màu nước tiểu.
“Tôi được báo ông thấy một cái hố,” người ngồi trong chiếc xe trắng lên tiếng.
Richard chỉ về phía sườn đồi.
“Pizza Số một gọi về tổng hành dinh, bánh đã giao,” anh chàng pizza nói qua bộ đàm.
“Pizza Số một, hãy tặng ông ấy vài chiếc bánh mì tỏi miễn phí, một chai nước ngọt, và lời xin lỗi chân thành của chúng ta.”
“Này ông,” anh chàng pizza gọi với ra từ xe của mình, “tặng thêm cho ông đây.” Cậu ta ném một chiếc túi ưắng; nó bay lên, roi đúng xuống nắp hộp pizza.
“Và lấy cái này luôn này.” Cậu ta ném một chai Coca ra khỏi xe. Nó roi xuống bãi cỏ như tên lửa; nắp chai văng ra, bắn nước đường màu caramel tung tóe.
“Xin lỗi, ông muốn chai khác không?”
“Thôi được rồi. Lái xe cẩn thận đấy.”
Nhân viên Sở Cao tốc đã bật bộ đèn trên nóc xe và chĩa hưứng xuống đồi. Ông ta bấm công tắc, động cơ rung lên, và sườn đồi được tắm trong ánh đèn trắng chói mắt.
“Ánh sáng đòi tôi đấy; tôi đã tự ráp bộ đèn này, lúc đó tôi sắp mù rồi - họ chỉ cấp cho chúng tôi mũ gắn đèn của thợ mỏ thôi.”
“Anh đến đây nhanh hơn tôi tưởng. Tôi gọi pizza trước khi gọi các anh đấy. ”
“Khi có chuyện, sở sẽ báo ngay. Bánh loại gì thế?”
Richard mở nắp hộp ra và liếc nhìn bên trong. “Nấm, xúc xích, bông cải xanh.”
“Tôi ghét bông cải xanh lắm. Lý do duy nhất tôi bỏ phiếu bầu George Bush là vì ông ta cũng ghét rau xanh giống như tôi.”
“Vậy anh ăn bánh mì tỏi đi.” Ông đưa chiếc túi cho anh ta.
“Cám on,” ngưòi nhân viên đáp. “Ớ trên này đẹp thật đấy,” anh ta nói. “Không giống như ở dưới đó - trên này không phải sợ gì cả.”
Hai người đàn ông nhìn xuống vực.
“Họ đang thi công trên đồi mấy hôm nay; dựng rào chắn, lắp cỏ và hệ thống tưới nước. Tôi đang thắc mắc không biết có phải đó là nguyên nhân không,” Richard nói.
Người kia lắc đầu. “Tôi không nghĩ rằng họ đang hút nước ra - bom nước vào thì đúng hơn, và như vậy sẽ tạo ra hiệu ứng ngược lại. Vấn đề của Los Angeles vẫn là chuyện nước nôi mà thôi - hoặc là ngập lụt hoặc là chết khô.” Anh ta nhìn xuống hố. “Những thứ như thế này xảy ra khi ông hút cái gì đó - một mạch nước bị vỡ, hoặc họ đang hút dầu ở gần quá. Đôi khi đó là do kết cấu - có nhũng hang ngầm đột ngột bị sập. Quanh vùng này có nhiều sói đồng cỏ không?”
“Không.”
“Có loài vật hoặc người vô gia cư nào đang sống trong hang không?”
“Ý anh là người thượng cổ à?”
“Người sống trong hang, họ vào hang, dựng nhà. Chúng tôi biết những người như vậy sống ở khắp nơi - ông không tin nổi đâu.”
“Tôi chưa thấy ai như vậy cả.”
“Ai cũng nói vậy. Tôi không muốn quấy rầy bữa tối của ông.” Anh ta hất đầu ra dấu về phía hộp pizza. “Nhung ông có thể giúp một tay không?” Anh ta mở cốp xe và bắt đầu lôi ra đủ thứ đồ nghề - giày ủng cao cổ, giống loại giày đế xuồng phong cách rock and roll. “Tôi ghét nhất phải làm chuyện này. Rắn, ở đâu củng có nhiều rắn. Tôi ghét rắn. Chúng sống ngoài đây vì chúng thích thời tiết này.” Mang ủng xong, anh ta tròng vào một bộ áo bảo hộ bằng da cũ, nối vài cuộn dây thừng, một chiếc thước đo bằng kim loại dài, một thứ gì đấy giống như micro, hũ nhựa. Anh ta chuẩn bị leo xuống.
“Ông chỉ cần giữ chặt dây thừng. Đừng buông ra.”
Hai người cùng tiến đến vực; ngọn đồi ngập chìm trong ánh sáng trắng nóng bức như ở trường quay. Nó nhắc Richard nhớ đến Capricorn One, bộ phim về một chuyến đi bộ trên mặt trăng chưa từng diễn ra.
Người nhân viên công vụ đi những bước kỳ lạ, ngập ngừng. “ít ra nó cũng không phải là chất lỏng; bỏi chất lỏng luôn khiến tôi hồi hộp. Tôi từng chứng kiến một người bị nuốt chửng xuống hố, ám ảnh tôi suốt đời.”
Richard giữ chặt sợi dây. Bụng ông sôi lên. Ồng nhìn người kia đo đường kính, nhập thông tin vào một chiếc máy tính bỏ túi, rồi cắm một thiết bị gì đấy xuống đất.
“Đó là đồ bom không khí à? Anh định bom nó lên lại hay sao?”
“Nó là thiết bị lấy lõi; tôi khoan xuống để lấy mẫu. Cái này chỉ khoan sâu được khoảng hai mét, so với bề mặt trái đất thì chẳng là gì cả, nhưng chúng tôi chỉ làm được đến đó. Còn cái này” - ông ta đưa một máy dò nhỏ màu trắng lên cao - “là máy phát, nó gửi thông tin về trụ sở. Máy Tampax, vợ tôi hay gọi thế, ‘Anh gắn Tampax vào được chưa?’”
“Nó sẽ lún sâu thêm bao nhiêu nữa, rộng ra đến cỡ nào nữa?”
“Trong tình huống tốt nhất, nó sẽ ngừng lún vào ngày mai. Tôi sẽ cắm cờ xung quanh hố làm dấu, để chúng ta nhìn thấy được. Tôi nghĩ ông không gặp nguy hiểm gì đâu, nhưng có lẽ ông sẽ cần xem lại họp đồng bảo hiểm nhà của mình...”
Ra khỏi hố, nhân viên chính phủ đưa Richard một tấm danh thiếp. “Tôi làm ca đêm; ca đêm bốn người, ca sáng sáu người. Nếu ông nghĩ nó bắt đầu dịch chuyển thì hãy gọi đến số này.”
Richard đem bánh pizza đã lạnh vào nhà và ăn hai miếng trong lúc đọc họp đồng bảo hiểm nhà. Phô mai đặc sệt, xúc xích dai như cao su, nấm mềm nhũn, nhưng tất cả chúng, nằm trên đế bánh ẩm ướt lạnh lẽo, lại trở nên ngon lành khi kết họp vói nhau ở nhiệt độ phòng.
Họp đồng có vẻ đầy đủ, dù có vài chỗ nhắc đến thiệt hại do thiên tai.
Ông đi ngủ, bụng căng tròn, ợ như súng bắn, xúc xích ưào lên thực quản. Ông nằm mơ thấy mình roi qua một con lốc xuống lòng đất, một chuyến đi sâu vào trung tâm của Los Angeles, trượt xuống máng trượt titan ngoằn ngoèo cố định bằng đinh tán, lội bì bõm qua hầm hắc ín, vừa bước vô định trên mảnh đất sa mạc khô cằn vừa lo sợ gặp loài hổ răng kiếm đã tuyệt chủng. Ông mơ thấy một tòa nhà xi-măng cao tầng không cửa sổ, một dãy phòng, mơ thấy thòi gian tự gấp lại được như kiểu gấp giấy origami. Ông choàng tỉnh giữa đêm vói vị pizza trong miệng. Ông đi đánh răng rồi quay lại ngủ.
ONG GIẬT MÌNH thức giấc. Đến bốn giờ bốn mươi
lăm, tang vật đựng trong hai lóp bao ni-lông - bánh pizza
thừa, bữa ăn tối vói cá hồi lạnh - đã được mang ra thùng rác, và ông đang đi bộ trên máy. Chân ông đau buốt, co cứng vì vụ tai nạn, nhưng ông vẫn cố gắng thả lỏng. Ông sẽ làm lại từ đầu. Mỗi ngày ông sẽ bắt đầu lại. Ông chạy trên máy, theo dõi máy tính, làm việc. Ông có việc phải giải quyết trước khi quay lại gặp Anhil.
Cưỡi trên con sóng chứng khoán, bắt lấy nó khi lên, đặt cược nó lúc xuống. Ông nghĩ về những điều ông biết, về cơ sở tin tức của ông, về cuộc đời vói những cơ hội, tương lai, chuyện kể, lịch sử.
Ông đặt cược - ông nghĩ về những việc cần làm theo cách như thế - đi năm cây số trên máy, tắm qua loa, đổ một ít loại ngũ cốc đặc biệt vào túi ni-lông có khóa kéo, ném vào thêm vài gói trà lọc thảo dược, rồi đi ra xe. Lúc đó là năm giờ ba mươi sáng, gần bằng chính xác giờ hôm qua. Trời vẫn còn tối, ngày/đêm trong trạng thái ngủ mơ, lơ lửng.
Lùi xe ra khỏi garage, ông có cảm giác như đang lén lút bỏ trốn, như đang cố gắng để không bị phát hiện. Thức giấc giờ này không còn quá sớm, nhung rõ rằng bây giờ là lúc còn quá sớm để đi ra ngoài.
Ông lái xe xuống đồi - ông sẽ đem bữa sáng của ông đến chỗ Anhil, họ sẽ nói chuyện, Anhil sẽ ngắm nghía xe ông, hôm nay sẽ là một ngày tốt lành.
Tiệm donut ở đâu nhỉ? Ông rẽ trái, rẽ phải, xuống hết dốc này đến dốc khác, như thể thành phố được xây trên một con dốc, một ngọn núi vô hình. Ông tìm mãi không ra noi đó. Ông lái xe trở lại Cedars-Sinai, quay đầu xe tại cửa phòng cấp cứu, rồi từ đó lái đi. Ông chạy qua một công viên mói, một đồi cỏ xanh rì, một gò đất có người vô gia cư nằm ngủ dưói giàn dây leo. Ông đang đi lại
tuyến đường đó, nghĩ ngợi đến việc mỗi khi ta đi trên một con đường, tùy vào cách ta đi thế nào, nhanh hay chậm, bằng ô-tô hay xe bus, hay đi bộ, mà ta nhận ra một điều gì đó khác biệt. Ồng đang nghĩ về tuyến đường, về công viên noi người ta nằm ngủ, và lý do nào đó khiến ông bắt đầu nghĩ về vụ ám sát Kennedy - những tuyến đường và đoàn xe hộ tống, những chiếc xe tăng tốc, tình huống khẩn trưong vô vọng.
Ông đang đi học. Thế giói đã đến hồi kết, ngày tận thế đã được tuyên bố. Tại sao tiếng còi báo động không kích chưa tắt? Tại sao họ không nấp dưói bàn? Tại sao không ai làm gì cả? Thay vì vậy, họ lại ngồi im bất động trước màn hình ti-vi và lắng nghe nhà báo Walter Cronkite. Bởi ông ta có thể nói, bỏi ông ta có thể lau nước mắt, Walter Cronkite trông như người duy nhất sống sót.
Ông nhớ mình được đưa về nhà, ngạc nhiên khi có người ở nhà, ngạc nhiên khi tối đó còn được ăn, ngạc nhiên khi mọi chuyện vẫn tiếp diễn.
“Bố biết một người từng làm việc cho Kennedy, may áo cho ông ấy, biết số đo của ông ấy,” bố ông nói, tìm cách liên hệ bản thân vào tình huống này, để chạm vào cuộc đời của một ngưòi đã chạm vào cuộc đòi của...
Tại sao ông lại nghĩ đến chuyện này?
Và rồi nó hiện ra, ở bên phải trước mặt ông - sáng trưng. Ông đỗ xe bên vệ đường. Tiệm bánh vắng hoe; ông tưởng tượng có chuyện đã xảy ra: Anhil bị bắn trong một vụ cưóp, ông sẽ tìm thấy anh ta trong nhà bếp, máu me bê bết.
Như con rối, Anhil ngóc dậy từ sau quầy thu ngân. “Xin chào.”
Cầm chiếc túi đựng ngũ cốc và trà, với chút cảm giác
lố bịch, Richard đứng tần ngần ở quầy. “Anh có nước nóng không?”
Anhil có ngạc nhiên vì ông quay lại không nhỉ? Hôm qua, khi anh ta nói, “Hẹn gặp lại ngày mai,” liệu có phải đó chỉ là lời nói xã giao, giống kiểu “Chúc một ngày tốt lành”?
Anhil đem nước nóng đến cho ông. “Sáng nay tim ông thế nào?”
“Tốt,” Richard đáp. “Rất bận bịu.” Ông thả túi lọc vào ly nước.
Anhil dán mắt vào đó, như chờ xem nó nổi bọt hoặc kêu xèo xèo. Cuối cùng anh ngước lên. “Tôi rất vui vì ông đã quay lại.”
Trong lúc ngâm trà, Richard kể với Anhil về ly martini, người đàn bà khóc, anh chàng pizza lạc đường, cái hố lún.
“Hay là ông có người đến thăm?” Anh ta nhìn lèn trần nhà. “Từ trên đấy. Tôi hay xem ti-vi đêm khuya, họ nói về đủ thứ chuyện. Đến ba giờ sáng thì thật khó mà không tin những điều họ nói.”
“Anh không tin những gì tôi nói?” Richard hỏi.
“Tôi tin mà, nhưng trái đất đâu có đứng yên khi ta chạy lòng vòng trên nó? Ông có đem theo xe không?” 
Richard gật đầu. Phấn khích, Anhil chạy ra khỏi tiệm. Xe đang đỗ ở vỉa hè - khổng lồ, màu đen, trông như một chiếc xe hoi hạng nặng thuộc một khách sạn, hoặc của một nhân vật nào đó quen được đưa đón. Richard không biết tại sao ông lại có một chiếc xe to như thế. Ông chọn nó vì nó đáng tin, vì, như bất kì người New York nào lái xe ở thị trấn này, ông muốn được bảo vệ. Ông chọn nó vì mười năm trước, khi ông đến công ty môi giói để tìm một chiếc xe nhỏ gọn, người môi giói đã thuyết phục ông rằng ông cần một chiếc xe hạng nặng. Màu đen không phải là màu của Los Angeles, đó là màu của New York. Los Angeles là màu sâm banh, kem, trắng, bạc, vàng - nhũng thứ không có màu sắc, những thứ hòa quyện vào khung cảnh.
“Nó không hẳn là của tôi,” ông nói, vẻ như có lỗi, “tôi thuê nó thôi.”
“Dĩ nhiên là xe thuê rồi. Chẳng ai có khả năng mua một chiếc loại này. Phải là vua chúa mới sở hữu được một chiếc Mercedes.”
Ông thuê xe bởi vì ông có thể khấu trừ toàn bộ chi phí thuê vào phí kinh doanh, bỏi vì nếu xe cần sửa chữa gì, ngưòi môi giói sẽ đến đưa nó đi, để lại một chiếc thay thế, rồi trả lại xe khi đã sửa xong. Ông thuê nó vì ông chỉ làm mỗi việc là gật đầu đồng ý và mỗi hai năm một lần, một chiếc xe to màu đen mói cáu, chiếc xe hoi đòi mới nhất, sẽ chạy vào đường lái xe nhà ông, nồng nàn mùi xe mói ngọt gắt.






Cùng chủ đề

No comments:

0 comments:

Tin tức mới

Mẫu đồng hồ bán chạy nhất

Xem nhiều