Ông đứng nhìn ra ngoài qua bức tường kính. Thành phố trải dài phía dưới, chìm trong sưong mù. Áp thấp. Mây giăng ngang đồi, tỏa ra từ các khe núi, kẽ đá, tựa như đất trời đang phát tín hiệu bằng khói.
Xa xa dưới chân đồi, một cô gái đang boi, mái tóc nâu dài bềnh bồng trong nước. Bộ đồ bơi tạo thành một chấm đỏ tưoi xinh xắn, một con chim nhiệt đới quý hiếm trong hồ nước xanh không tự nhiên. Sáng nào cô cũng boi - lướt êm như vận động viên Olympic. Ông cảm thấy dễ chịu trong vũ điệu boi của cô, trong sự dứt khoát, nhịp điệu, sự đều đận của cô, dễ chịu vì cô thức khi ông thức. Động tác của cô rất khẩn trưong; cô không thể không bơi. Cô là tri kỉ của ông, nàng thơ của ông, nàng tiên cá của ông.
Ông đang ở bên bức tường kính; thông thường ông không đứng đấy, nhất là vào giờ này. Thông thường ông ngủ dậy rồi bước lên máy chạy bộ - ông chạy trong lúc cô bơi. Ông vừa chạy vừa nhìn bảng thông tin điện tử qua chiếc note edge xách tay của mình, truyền từ bàn phím gắn vào máy, vừa chạy vừa gõ bàn phím, đặt cược, mua khống bán khống, kiểm tra mức độ biến động, cưỡi trên con sóng điện tử vô hình.
Thường lệ là ông, ông của thường lệ. Mọi việc hôm nay không giống như củ, thế nhưng nó lại giống hệt như cũ và không thể nào giống như cũ được nữa.
Ông đứng bên bức tường kính. Những tiếng động máy móc của ngôi nhà khiến ông giật mình. Đá lăn lốc cốc xuống hộc tủ đông, máy pha cà phê rót nước vào ấm, không khí hối hả ùa ra khỏi lỗ thông, thổi phồng ống quần ông. Ông rùng mình.
“Xin chào?” ông cất tiếng gọi. “Có ai ở nhà không?”
Thông thường ông không nghe thấy. Ông làm mọi cách để mình chẳng nghe thấy gì, chẳng cảm thấy gì. Ông thức dậy, đeo tai nghe chặn tiếng ồn, đi đến tường kính, nhìn cô gái bcri, và bước lên máy tập.
Ông ở trong một môi trường chân không thinh lặng - sự sống hoàn toàn bị xóa bỏ.
Thậm chí ông còn không biết máy pha cà phê chạy tự động - ông không uống cà phê; ngưòi dùng máy là Cecelia, bà giúp việc, thường đến trong khoảng bảy rưỡi đến tám giờ. Ông hít thở sâu - thom quá mùi cà phê.
Sau nhiều năm đảm bảo được sống yên ổn một mình, đột nhiên ông sợ cô đon, sợ không nghe thấy, sợ không cảm thấy, sợ không nhận ra. Ông áp tai vào kính. Tiếng nhạc. Phía trên đồi ngưòi ta đang trồng cỏ vào noi trước đây chỉ toàn là bụi rậm um tùm. Họ đã dựng xong vách ngăn, lắp khung, và đang trải thảm cỏ ra. Họ đang tạo một sân golf mini - một lỗ.
Bên trên và bên dưới là một chuỗi nhà mọc trên sườn núi: một chuỗi xã hội, một chuỗi kinh tế, một chuỗi thực phẩm. Mục tiêu là phấn đấu làm sao để nằm trên đỉnh, bá chủ ngọn đồi - mục tiêu là chiến thắng. Mỗi người nhìn xuống người cạnh bên, nghĩ rằng dù sao mình củng giỏi hon, nhưng vẫn luôn có người khác hoặc là trồi lên từ phía dưới hoặc nhìn xuống từ phía trên. Còn lâu mới thắng được.
Ong đứng ở mũi ngôi nhà, noi hai tấm kính dày tiếp giáp, một góc sắc nhô ra trên đồi như mũi tàu. Ông đứng đấy - thuyền trưởng, chúa tể, ông chủ, tù nhân của công trình do ông tạo dựng.
Xa xa phía trước có một thứ màu cam đang bốc khói; mất một lúc ông mới khẳng định được - cháy rừng hay đon giản là bình minh ở Los Angeles?
1Ngày hôm qua có vẻ như thật hon cả thật, một giấc mơ, một tai nạn, như kiểu tai biến hoặc rối loạn thể chất. Chuyện gì đã xảy ra chăng?
Mặt đất bị lún, một vết lõm to tròn mà ông không nhớ đã thấy vào ngày hôm trưóc. Ông nhìn nó, đo nhẩm trong đầu - đường kính khoảng hai mét rưỡi, cách nhà chùng mười lăm mét. Nó ở đâu ra? Nó ở đấy bao lâu rồi? Ông sẽ mô tả nó như thế nào? Giống dấu vết để lại khi ấn mật sau một chiếc muỗng múc canh khổng lồ xuống mặt đất. Liệu những chuyện thế này có xảy ra sau một đêm không?
Ông chợt nghĩ đến con đau. Thoạt tiên là cảm giác chuột rút xoắn nút ở lưng, một sự co rút kì lạ từ ruột lên đến ngực. Món xúp đậu lăng ông dùng trong bữa trưa? Ông chờ đọi. Ông uống một viên antacid1. Con đau nặng hon, lan rộng, như dao đâm xuống chân, ép lên hàm, một sự đau đón tựa đá đè, một cây kim đan dài sắc đâm vào cánh tay ông, sự đau đón nhỏ giọt xuống từng ngón tay - có phải chúng bị tê dại? Toàn thân ông rách toạc như một cây rìu bổ xuống gỗ tươi, một con co giật kéo xương bả vai ông ra sau như cây cung cong oằn, bẻ gập ông về trước, uốn cong ông thành một chữ “c” vặn vẹo rúm ró, một con co giật dữ dội đủ để chẻ một
ngưòi ra làm đôi. Ong không nghĩ đến việc gọi điện cho ai, không biết ai để gọi, phải nói gì, chính xác thì đau ở đâu? Con đau hiện diện khắp noi, gây choáng váng, vã mồ hôi, tối tăm mặt mũi.
Lúc đầu, khi còn gượng nổi, ông đi vào phòng ngủ, mặc một chiếc quần tử tế, đeo thắt lưng, mặc áo len nhẹ, đi tất và mang giày. Ông ãn mặc như thể sấp đi choi vói bạn, đến một buổi tiệc tối, đến một sự kiện nhỏ nào đấy, màu sắc trung tính, chất liệu vải nhẹ. Ông vừa mặc quần áo vừa nghĩ có khi ông phải tự vác thân xuống đồi, đến phòng mạch bác sĩ, mà không nhận ra lúc ấy đã muộn, đã quá giờ, ngoài đường chỉ còn vài người.
Ông nằm lên sofa, một việc ông chưa từng làm trước đây; như thế là đi ngược nguyên tắc - những nguyên tắc riêng tư, cá nhân mà chúng ta ai củng đặt ra cho mình - không nằm lên noi nào khác ngoại trừ giường và không bao giờ nằm giữa ban ngày.
Ông nằm trên sofa cố gắng thả lỏng. Có phải vì một động tác nào đấy ông tập vói huấn luyện viên, một cú vặn hoặc xoay ngưòi sai tư thế? Hay là ông bị bệnh, cảm lạnh hoặc cảm cúm? Con đau vẫn tiếp diễn. Nó đã đến như thế nào? Có phải cơn đau mói xuất hiện, hay nó đã luôn ở đó mà đến giờ ông mới nhận ra?
Ông ngồi dậy, uống một chút ibuprofen1, và đứng ở bức tường kính nhìn xuống thành phố, nhìn nhũng chiếc xe trên đại lộ phía dưói rẽ hướng, leo lên đồi. Tròi tối dần, đèn xe đã mở, nhũng ngôi nhà lung linh ánh sáng của sự sống. Bầy sói đồng cỏ cất tiếng tru. Thành phố ở phía xa vừa rộng lớn vừa nhỏ bé.
Ồng bắt đầu khóc. Ông khóc không thành tiếng, và khi ông nhận ra mình đang khóc, điều đó, hay chính nỗi sợ đó, nó báo với ông rằng có gì đó rất không ổn. Thế là ông càng khóc hăng hon.
Đây có phải là “Nó” không? Có phải “Nó” xảy ra như thế này không? Liệu đã có gì trước đó chưa, một điều gì đó mà ông nên nhận ra, một lòi cảnh báo? Hay đây chính là lòi cảnh báo? Đây hoặc là lời cảnh báo hoặc là NÓ.
ONG BẤM SỐ 911.
“Cảnh sát, cứu hỏa, cấp cứu.”
“Bác sĩ,” ông nói.
“Cảnh sát, cứu hỏa, cấp cứu.”
“Cứu hộ,” ông nói.
“Cảnh sát, cứu hỏa, cấp cứu.” Câu trả lời được ghi âm.
“Cấp cứu,” ông nói.
“Xin chờ một chút.”
Ông đọi để được nối máy, và trong giây phút im lặng, con đau biến mất. Con đau lướt qua, và rồi ông bắt đầu nghĩ rằng tất cả chỉ là một con ác mộng, một giấc mơ giữa ban ngày, một hậu quả của bữa trưa tệ hại.
Ngay khi ông vừa định gác máy, một người phụ nữ lên tiếng. “Tình huống khẩn cấp gì vậy?” cô ta hỏi, và con đau trở lại, nhắc nhở ông.
“Đau,” ông đáp. “Đau không chịu nổi.”
“Đau ở đâu?”
“Khắp nơi.”
“Ông có bị chấn thương không - bị trúng đạn, té ngã, rắn cắn, cung tên?”
“Không,” ông đáp. “Không, tôi đang ở nhà, cả ngày hôm nay tôi ở nhà. Nó ngấm khắp cơ thể tôi, toàn thân đau như dần.”
“Ông đau bao lâu rồi?”
“ít nhất là nhiều giờ.” Nhưng cũng có thể nhiều ngày hoặc nhiều năm rồi - ông cũng chẳng biết.
“Ông có tiền sử đau tim, đột quỵ, hoặc tai biến không?” “Không.”
“Ông bao nhiêu tuổi?”
“Năm mươi lăm.”
“Ông ở nhà một mình à?”
Chẳng hiểu sao câu hỏi này khiến ông hoảng sợ. “Tôi li dị rồi.”
“Có ai ở đó với ông không?”
“Không.”
“Ông có từng đau như thế này bao giờ chưa?”
“Tôi chẳng bao giờ nhận ra nó, mãi đến hôm nay.” Ông đang trở nên mỗi lúc mỗi căng thẳng. Cuộc nói chuyện giống như một bài sát hạch - quá nhiều câu hỏi. Liệu cô ta có cho người đến cứu ông không hay chỉ nói chuyện với ông suốt đêm?
“Ông có thể xác nhận tên và địa chỉ của ông không?” “Cô có thể gọi tôi là Rick,” ông đáp.
“Đó có phải là tên thật của ông không?”
“Ý cô là sao?”
“Đây là nhà của ông phải không?”
“Phai.”
“Ông có dùng tên nào khác để đăng kí số điện thoại hoặc địa chỉ không?”
“Richard,” ông đáp.
“Cám ơn ông, thưa ông Novak,” tổng đài viên nói. “Làm sao cô biết tôi là ai?”
“Hệ thống chúng tôi đã được nâng cấp. Đội cấp cứu đang đến. Theo một chưcmg trình thí điểm giúp tập huấn cho tư vấn viên chuyên xử lý các trường họp khủng hoảng, tôi có thể chuyển máy cho ông gặp một tư vấn viên, người này sẽ trò chuyện với ông cho đến khi đội cấp cứu đến.”
“Cô đang cố bán hàng gì cho tôi à?”
“Không, thưa ông, chúng tôi không tính thêm tiền đâu. Đây là dịch vụ mà ông đủ điều kiện được hưởng vì ông có hồ sơ phù họp.”
“Hồ sơ?”
“Ông đang ở vùng có mã điện thoại họp lệ và gặp một tình huống khủng hoảng đe dọa tính mạng. Với sự cho phép của ông, tôi sẽ chuyển máy cho ông gặp một tư vấn viên; tên cô ấy là Patty; ông đợi cho một chút.” “Chào, Richard, tôi là Patty.”
“Chào, Patty,” ông trả lời.
“Anh đang làm gì vậy, Richard?”
Ồng không biết phải trả lời thế nào.
“Tôi đang sắp chết.”
“Cái gì làm cho anh sắp chết?”
“Cơn đau.” Một sự vỡ vụn, một cơn bùng nổ, một cái chết hành hạ từ từ.
“Anh đau ở đâu trên người? Anh có thể nhắm mắt lại và mô tả được không?”
Đã từng có người lăn đùng xuống đất khi đang ăn trưa, họ đang dùng bữa tại nhà hàng tuyệt vòi nhất, ngon nhất, đất nhất thành phố và - bùm - họ chọt ngã lăn quay ra chết. Ông có thể là một người trong số đó. Ông có thể tiêu tùng hệt như thế - tắt ngóm như bóng đèn, như cách mà bà cô của ông thường nói. Ong có thể bước ra ngoài, ngã lăn ra chết trên đường lái xe vào nhà, rồi bị sói ăn thịt, bị kền kền rỉa xương. Chẳng có gì khác giữa cơ thể ông và cơn đau - cơ thể ông chính là cơn đau. “Richard, gần đây anh xem phim gì?”
Đó là một trong những câu hỏi “chỉ có ở Los Angeles” - ngay cả khi anh sắp chầu tròi, người ta vẫn nói về phim ảnh.
“Tôi không biết,” ông cố gắng nhớ lại. Ông nhớ đã xem Bonnie và Clyde ở Wellfleet, Massachusetts, lái xe đến bãi chiếu ngoài tròi cả triệu năm về trước.
“Anh có sở thích gì không? Anh có chơi golf không?” “Tôi thích boi,” ông đáp, tự thấy bất ngờ.
“Anh boi ở đâu - nhà anh có hồ bơi không?” “Không.”
“Lần cuối anh đi bơi là khi nào?”
“Khoảng năm năm trước. Tại một khách sạn ở Miami; tôi đưa một người phụ nữ đến đó cho một kì nghỉ cuối tuần dài. Chuyến đi kết thúc rất tệ hại.” Ông ngừng lại. “Tôi nghĩ lúc này tôi không nên nói thì hơn. Cố gắng nói chuyện khiến tôi mất tập trung.”
“Vậy anh muốn làm gì nào?”
Ông hình dung những người già với máy phát tiếng nói gắn ở cổ thốt ra câu: “Tôi bị ngã, tôi không đứng lên được”. Ông hình dung cảnh họ nằm sóng soài trên sàn, nói qua máy phát tiếng trong lúc chờ đội cứu hộ đến, cảm thấy yên tâm vì có người sẽ đến đưa họ đi. “Patty,” ông hỏi, “quê cô ở đâu?”
“Minnesota,” cô đáp.
“Tôi cũng nghĩ thế,” ông bảo. “Nghe giọng cô giống ngưòi đến từ Minnesota hoặc Modesto.” Ông đang ngồi trên sofa, dán mắt vào lóp tường kính. “Thôi được rồi,
cô không cần hầu chuyện tôi đâu. Tôi nghĩ mình cần được yên tĩnh để tập trung.”
“Họ sẽ chóng đến thôi,” cô đáp.
Ông tự hỏi liệu mình có đủ tiền mặt để trả cho họ - ông tự hỏi ý nghĩ ấy từ đâu đến - ông đâu cần phải trả tiền cho họ, ông đã trả rồi còn gì, tiền thuế dùng vào việc đấy mà. Khi ông còn có vợ và sống ở New York, một lần ông gọi điện đặt món Trung Hoa và người ta giao hàng đến noi, trong lúc ông vẫn còn đang nói chuyện vói nhà hàng qua điện thoại. Người ta thường đùa rằng nhà hàng ấy có một nhà bếp vệ tinh ở tầng hầm của tòa nhà. Ông và vợ luôn để sẵn tiền mặt để trả - lúc nào họ cũng phải trả tiền cho một ai đó, người giao hàng, người gác cổng, người chạy việc.
“Anh còn ở đó không?”
Ông nghe thấy tiếng còi hụ từ xa, tiếng ầm ầm của động cơ, xe tải leo đồi, còi hụ dừng lại bên ngoài nhà ông. Ông có thể thấy hình ảnh phản chiếu của những chiếc đèn đỏ chóp tắt in trên kính. Ông biết họ ở ngoài đấy.
Có tiếng gõ cửa.
Ông nằm trên sofa, nghĩ rằng mình nên ngồi dậy.
“Richard,” Patty nói, “lính cứu hỏa đang ở ngoài cửa; anh có thể mở cửa cho họ không?”
“Tôi không biết,” ông đáp, sợ hãi, như thể toàn bộ chuyện này là một sai lầm, như thể lẽ ra ông không nên gọi điện.
Ông quan sát. Ông thấy họ đi vòng quanh nhà, xuống đồi, ánh đèn pin chuyển động, những chiếc áo khoác dày cộm của họ, như những lóp da voi có nhãn mác, với những con số phát sáng. Ông nghe tiếng bộ đàm khợt khẹt.
Họ bắc loa gọi tên ông theo cái cách khiến ông phải đầu hàng.
“Richard Novak, ông có nghe thấy không, ông có thể mở cửa không?”
“Anh có giấu chìa khóa ở đâu không?” Patty hỏi.
“Cửa garage vẫn mở.”
“Chúc may mắn, Richard,” Patty nói rồi gác máy.
Họ bước vào, lỉnh kỉnh túi xách, áo khoác của họ có mùi hỏa hoạn.
“Tôi đang nằm trên sofa,” ông kêu lên. “Tôi đang kêu đây.”
Không có hỏa hoạn.
Họ đứng vây quanh ông, quỳ gối trước mặt ông, nói chuyện với ông. “Chúng tôi sẽ đo huyết áp và cho ông thở oxy. ”
Ông gật đầu.
“Bây giờ ông có thấy đau không?”
“Tôi không biết,” ông đáp, nói vào chiếc mặt nạ nhựa. Giọng ông bị nghẹt, xa vắng. “Tôi chẳng nhớ gì hết.”
Một cảnh sát đến nhà ông. Chẳng lẽ họ định bắt ông vì tội gọi điện quấy rối, vì báo động giả, gây lãng phí dịch vụ công chăng?
“Ông ở nhà một mình ư?” người cảnh sát hỏi.
Ông lại gật đầu - tại sao họ lại ám ảnh vói việc có ai ở nhà đến thế nhỉ?
Ngôi nhà đầy ắp người — gọi tên ông, nói chuyện với ông bằng giọng rất lớn. Các nhân viên cấp cứu đến và mở ra những chiếc hộp - những chiếc hộp cứng, như hộp đồ nghề nhiều khay. Họ lắp đặt một loại máy móc mà ông đã thấy trên ti-vi, máv khử rung tim. Ông cầu cho họ đừng dùng máy đó trên người ông. Ông rất tỉnh táo mà, phải không? Trên ti-vi những nhân viên cứu thưcmg thường hô to: “Sẵn sàng” và “Lùi lại” rồi sau đó làm cho người ta giật đùng đùng. Chiếc máy đang nằm đó, sẵn sàng, đèn xanh - xuất phát.
“Bức họa của de Kooning1 đẹp thật,” một nhân viên cấp cứu nói.
Họ cởi áo ông ra, đặt các điện cực lên ngực ông, thay mặt nạ khí oxy bằng những ống nhỏ gắn vào mũi ông.
“Nó làm chèn dây thần kinh,” ông nói, tìm cách né tránh.
“Còn tôi thì rất thích bức họa Rothko2 của ông. Tôi từng thấy nó tại MOCA3.”
“Lúc đó tôi cho họ mượn,” Richard cho biết.
“Ổ vâng,” một người lính cứu hỏa nói. “Tôi thấy nó quen quen. Đó là tranh của ông họa sĩ mà họ từng làm phim, Ed Harris.”
Nhân viên cấp cứu lắc đầu. “Ed Harris đóng vai Jackson Pollock4, đó là hội họa hành động5, vẩy son lên tranh. Còn đây là Mark Rothko, u ám hon, nghiêm túc hon.” “Các anh là nhân viên y tế hay là chuyên gia nghệ thuật vậy?”
“Tôi học dự bị V khoa và lịch sử nghệ thuật tại Harvard. Ông có uống thuốc gì không?”


No comments: