CẨN THẬN - PHÓNG XẠ. Một kĩ thuật viên xuất hiện, tay cầm một ống tiêm to. “Ông có dị ứng với hải sản, sò ốc, i-ốt không?”
“Tôi nghĩ là khỗng.”
“Ông có sợ không gian hẹp không?”
“Tôi chưa bao giờ nghĩ thế. ”
Óng tiêm to, và rồi một ống tiêm nhỏ hon: thuốc cản quang và một chút gì đó để trấn an, làm dịu thần kinh ông.
“Buổi chụp hình mất khoảng bốn mưoi lăm phút; ông nhớ đừng nhúc nhích - chúng tôi không có thòi gian để làm lại, chúng tôi sẽ ép người ông vào.”
Ông cảm thấy cơ thể bị ép lại. Ông cảm thấy mật đậu lăng dâng lên trong cổ họng. Thuốc cản quang di chuyển trong người ông như thạch phóng xạ lạnh. Đầu óc ông cảm thấy lạ lẫm. Ông nhớ cảnh cửa xe cấp cứu mở ra, cảm giác nhẹ nhõm vì ông đã sống sót đến bệnh viện. Và rồi sự trào lên gần như đồng thời từ ruột gan ông, cảm giác phải đẩy tất cả mọi thứ lên, tự nôn ra hết, để cuối cùng ông hoàn toàn thô sơ, từ trong ra ngoài, phơi bày tất tần tật. Người y tá dùng khăn giấy lau sạch chất nôn khỏi miệng ông; thật là tử tế. Nếu bà gọi tên ông, nếu bà mỉm cười vói ông, nếu bà có một miếng khăn ướt, nếu bà dịu dàng hơn một chút, thì đã thật hoàn hảo. Mọi điều thật đơn giản nhưng ông cảm thấy an ủi vì họ đã ở bên cạnh ông. Buổi chụp hình giống như vận hành thử một chiếc quan tài, như thể họ đang chụp phim ông để làm hình mẫu ba chiều - một cái chết ảo. Ông có thể tường tượng cảnh họ chụp phim ông rồi sau đó đưa ông lên lầu trở lại và cho ông xem một bài thuyết trình bằng Powerpoint về hình ảnh của ông trong nhiều loại quan tài: những chiếc quan tài làm bằng chất liệu khác nhau, gối kê đầu, một số chiếc gối có thêu danh ngôn, chữ viết lồng vào nhau trên nắp quan tài.
Câu chuyện về nghệ thuật sống
Ông nằm trên chiếc giường hẹp bằng phảng của máy chụp phim, mắt mở thao láo, mũi cách trần năm centimet, và đầu óc ông chỉ nghĩ đến duy nhất một người là vợ cũ.
Nghĩ về thuở ban đầu, dường như đó là noi ông bỏ lại. Bà sắp trở thành nhà báo, còn ông sắp trở thành nhà kinh doanh Samsung galaxy note 5 2 sim, học giả, chính trị gia. Họ gặp nhau ở trường cao đẳng - Barnard và Columbia - mất trinh tiết với nhau - hoặc ít ra thì ổng đã mất trinh vì bà. Rồi họ kết hôn - sắm căn hộ đầu tiên ở khu Upper East Side, trong một tòa nhà mới tẻ nhạt trên Đại lộ Lexington. Ngay từ đầu bà đã quả quyết như thế là chưa đủ - bà muốn phải là Đại lộ số Năm, nhìn ra công viên. Và mọi sư bắt đầu với cảm giác thất bại. Thay cho cảm giác phấn 'khởi, khoảnh khắc ghi dấu hai người trẻ bắt đầu một cuộc sống chung là nỗi chán chường muôn thuở về việc chẳng có gì đủ hoàn hảo. Bà lao vào công việc - quyết tâm rằng, bằng cách này hay cách khác, bà sẽ có đúng thứ mình muốn - và ông nhanh chóng cảm thấy bị ra rìa. Trong một nỗ lực để cải thiện, để thu hút sự chú ý của bà, ông cũng lao vào làm việc, và tiền trở thành tất cả, làm ra đủ tiền để gây ấn tượng với bà, sau đó đủ tiền để bảo vệ chính ông, và rồi cứ vơ vét, tiền đẻ ra tiền. Có quá
nhiều tiền ở ngoài kia, những đồng tiền có thể thuộc về ông chỉ bằng cách có một ý kiến, một quan điểm, một suy đoán giỏi. Đó là trò choi của tiền, thú vui của tiền, nó gây nghiện, và ông đã trăm trận trăm thắng. Ông tự nhủ đã thắng được hai triệu đô-la, đã có được một khoản thưởng kếch sù, đá giành được sự ngưỡng mộ của tất cả những người xung quanh, những người sống chết vì tiền, những người tôn sùng đồng tiền, những người bị nó ăn tưcri nuốt sống. Đó là một trò choi, ông bảo mọi ngưòi như thế - không phải là anh không muốn thắng, nhưng anh phải biết chấp nhận thua, anh phải xem nó như vật ngoài thân. Nó chỉ là giấy thôi mà.
“Cỡ như ông mới dám tuyên bố thê thôi.” Họ thường đáp lại.
Sau một thời gian, đúng là ông có của ăn của để. Ông thức dậy vào mỗi buổi sáng và về nhà vào mỗi buổi tối mà chẳng cần lo lắng gì.
“Sắp xong rồi,” một giọng nói máy móc vang lên qua chiếc loa ưong quan tài của ông, cắt ngang dòng suy nghĩ.
Tiếng rì rì của máy đổi tông và ông đổi chủ đề. Lần cuối cùng ông vào bệnh viện là khi nào?
Ben. Ngày sinh Ben. Làm sao họ đủ thòi gian để có con? Họ đã nghĩ gì? Họ có muốn một đứa trẻ hay không? Hay họ chỉ làm những gì mà các cặp vợ chồng phải làm? Có giống như những người mua một chú cún con làm quà Giáng sinh - trông nó thật dễ thưong với chiếc nơ trên cổ, nhung giữa đêm ai sẽ dắt nó đi vệ sinh?
Ồng nhớ lúc Ben chào đời. Khi ông dừng lại để nghĩ về chuyện đó, ông nhớ tất cả mọi thứ: căn phòng bệnh viện, nhũng chiếc máy bán hàng tự động ở tầng hầm, cà phê khét nhạt nhẽo. Việc này nối tiếp việc kia, ông có thể quay trở lại vừa kịp lúc, khoảnh khắc trọng đại, vợ ông chửi mắng ông, các y tá bảo ông đừng phật ý - “cô ấy đang chuyển dạ.”
Ben nhắm nghiền mắt, làn da mỏng manh, trong suốt, chưa sẵn sàng cho bất cứ điều gì. Ben ngủ say, nghỉ ngoi sau một chuyến đi dài, bảo vệ chính mình. Ben, lúc nào cũng thích ngủ - ngủ ngoan suốt đêm kể từ tám tuần tuổi trở đi. Richard vừa đi làm về là đến bên Ben. Ồng cúi xuống chiếc cũi trong bóng tối, lắng nghe hơi thở của nó, chạm vào nó, và đôi khi một bàn tay tí hon sẽ nắm lấy tay ông - nắm thật chặt.
“Lâu hon tôi tưởng,” kĩ thuật viên cho biết. Nằm trên băng ca, nhìn lên trần, Richard đang đắm chìm trong hồi tưởng.
TRỞ LẠI PHÒNG CẤP CỨU, một bác sĩ trẻ măng kéo rèm ra và ngồi xuống một chiếc ghế nhỏ cạnh giường ông. Lần đầu tiên trong đời, Richard không chỉ cảm thấy có tuổi - ông cảm thấy GIÀ.
“Khi ông đến một tuổi nào đó, chúng tôi phải khám mọi thứ cẩn thận hơn,” anh chàng bác sĩ nói. “Cá nhân tôi nghĩ ông không phải bị đau tim - điện tám đồ của ông bình thường, các men đều ổn. Bây giờ ông cảm thấy thế nào?”
“Có một khoảnh khắc mà anh không nói được nó đỡ hơn hay tệ hơn, xuất hiện hay biến mất, đó là khi anh không cảm thấy gì cả.”
Không biết phải nói gì, chưa bao giờ nghe nói đến một chuyện như thế, anh bác sĩ trẻ cúi xuống nhìn hồ sơ bệnh án. “Như tôi nói, hình chụp CAT của ông bình
thường. Điện tâm đồ cũng không có vấn đề gì - ông không bị ngã, không bị tác động trúng đầu phải không?” “Không,” ông đáp. “Chẳng có gì hết.”
“Chúng ta có vài lựa chọn. Chúng tôi có thể cho ông nhập viện trong hai mưoi tư giờ để theo dõi xem ông thế nào, hoặc chúng tôi có thể cho ông xuất viện.”
“Nhập khoa nào?” ông hỏi.
“Khoa phục hồi. Chúng tôi sẽ đặt máy theo dõi ông.” Anh ta dừng lại. “Quan điểm riêng của tôi là đây chỉ có thể là một trong những chuyện đó thôi - nhưng tôi biết gì chứ? Rất nhiều việc xảy ra, mà chúng tôi không thể ghi chép lại. Ý tôi không phải là chẳng có gì xảy ra vói ông. Nhưng đó có thể là một sự cố riêng biệt, một chuyện đã qua.”
“Đó có phải là một cách lịch sự để nói tôi bị điên không?” Ổng đang nằm dưới một tấm trải giường mỏng, mặc áo bệnh nhân nhàu nhĩ.
“Rất khó biết phải nghĩ thế nào về những việc này - ta gọi chúng là gì? - những sự kiện. Đừng nghĩ quá nhiều về nó - cứ chấp nhận nó. Đã có chuyện gì đó xảy ra, chúng ta chỉ không biết đó là chuyện gì.” Anh ta dừng lại và cưòi mỉm. “ít nhất thì ông chưa chết, như vậy là tốt rồi, đó mới là điều quan trọng. Ông còn thòi gian. Không ai trong chúng ta biết khi nào thì họ sẽ thổi còi và lồi chúng ta ra khỏi trận đấu. Cho đến lúc đó, hãy xem mọi thứ đều là thông tin hữu ích.”
“Vậy - tôi nên mừng vì còn sống.”
“Tất cả chúng ta đều nên mừng vì mình còn sống.” “Con đau đó khủng khiếp lắm.”
“Theo ý tôi, ông xuất viện được rồi, nhưng ông là khách hàng, cho nên, nếu ông muốn tôi cho ông nhập
viện, tôi sẽ kiểm tra xem còn phòng trên khoa đấv hay không. Chúng ta có thể làm thêm nhiều xét nghiệm, chúng ta luôn luôn có thể làm thêm nhiều xét nghiệm.”
Ông không muốn ra quyết định; ông muốn bác sĩ nói cho ông biết phải làm gì. Ông bị phân tâm, bị bấn loạn, bị tiêm thuốc, lờ đờ vì thức suốt đêm.
“Ông định ở lại hay về?” bác sĩ hỏi, vẻ mất kiên nhẫn.
“Tôi sẽ về nhà,” ông đáp, như vừa được yêu cầu chọn giữa các cửa số 1,2 và 3.
“Đã có chuyện xảy ra, đừng lờ nó đi. Tôi không nói được đó là gì không có nghĩa là nó không có thật. Hãy theo dõi, hãy đi khám nội khoa - biết đâu bác sĩ sẽ có điều gì thú vị để nói. Và từ nay mỗi ngày hãy uống một viên aspirin cho trẻ em, biến nó thành một phần thói quen thường ngày của ông, vả lại, thuốc đó cũng ngon lắm - như Flintstones hay Chocks ấy.”
“Như gì cơ?”
“Những loại vitamin tôi thường uống khi còn bé - bây giờ vẫn uống.” Anh ta rút từ trong túi ra một lợ vitamin Flintstones. “Tôi uống thuốc như ăn kẹo; Wilma là loại tôi thích nhất, Wilma cam; ngon thứ hai là Bamey xanh, và Dino đỏ, tôi yêu Dino. Tôi muốn tặng ông một viên nhưng tôi không thể - làm vậy là sai quy định.”
Hơi khó để tin rằng bác sĩ Flintstones đang nghiêm túc - anh ta khiến Richard nhớ đến một người mà ồng từng quen, làm nghề mặc đồ hóa trang thành Đậu phông Planters.
“Tôi phải hỏi anh câu này,” Richard nói, rướn người về trước, thì thào. “Có thể chẳng liên quan gì, nhưng ở buồng cạnh bên - bà ấy có bị mất đầu không? Tôi đã thấy cái gì đó.”
Anh bác sĩ không biết ông đang nói gì. “Tôi chỉ là bác sĩ tim mạch. Vậy ông bảo trọng nhé, hi vọng chúng ta sẽ không gặp lại nhau sớm.”
Khi anh ta đi rồi, tấm rèm giữa hai buồng mở ra. Bà ta nằm đó - ông biết bà ta là ai, đại loại thế; bà ta có vẻ quen quen rất buồn cười, một bà cô đã lâu bặt tin, một người nào đó sống cạnh nhà, một thành viên của gia đình.
“Tôi nằm ở đây lúc người ta đưa bà đến,” ông nói. “Tôi đã thấy thứ gì đó...”
“Đầu tôi.” Bà thò tay vào thùng rác. “Đây là cải anh thấy - bộ tóc giả của tôi. Vàng hoe, dính máu, một trăm phần trăm làm bằng tóc người. Tôi nghĩ nó khó giặt sạch được. Tôi còn một bộ khác ở nhà, nhưng phải có người về lấy - chính vì vậy mới xảy ra sự chậm trễ. Tôi phải đợi một cái đầu mới.”
Người y tá ngắt lời - “Tôi sẽ giúp ông xuất viện,” bà ấy nói. “Hi vọng ông đã có một trải nghiệm thú vị.” Bà mỉm cười. “Lúc này là ba giờ hai mưoi phút sáng, nhiệt độ ngoài trời là mười hai độ. Hôm nay sẽ là một ngày đẹp trời ở Los Angeles.” Bà rút kim ống truyền dịch khỏi tay ông. “Có một dấu ‘X’.” Khi bà tháo dây khỏi máy đo điện tâm đồ, bà gỡ những đầu dính trên ngực ông trước, sau đó tắt máy - một đường nằm ngang hiện ra trong phút chốc. “Ông sợ, phải không?”
Ông gật đầu.
“Lẽ ra không được làm cách đó - nhưng tôi cứ làm, phải vậy mói khiến ngưòi ta quan tâm đến sức khỏe. Họ làm gì tôi được chứ, sa thải tôi ư? Nhưng mà nói nghiêm túc thì kế hoạch là thế này: ông sẽ tiếp tục uống aspirin trẻ em, theo dõi với bác sĩ của ông, và nếu các triệu chứng tái phát thì chúng tôi ở đây hai mưoi tư giờ một ngày, bảy ngày một tuần - mở cửa suốt đêm.”
Ông ngồi dậy, chuẩn bị thả hai chân xuống cạnh giường. “Tôi nghĩ tôi sẽ đi dạo một chút trước khi về nhà.” “Ôi không,” người y tá nói, “ông đâu thể muốn đi khỏi đây thì đi. Phải có người đến rước ông, hoặc là ông phải đợi đến tám giờ sáng, sẽ có xe VIP của bệnh viện đưa ông về nhà. Chúng tôi có dịch vụ đưa đón miễn phí, nhưng trước tám giờ thì chưa có. Ông có bạn bè không?” Trông ông thật hoang mang.
“Để chúng tôi gọi taxi cho ông.”
Ông kéo rèm lại, tìm thấy quần áo của mình trong một bao ni-lông ở chân giường, mặc áo len vào - chiếc áo loang lổ vết nôn - rồi vỗ vỗ lưng cho thẳng lại. Ông ló đầu ra ngoài. “Chị có bàn chải đánh răng hoặc nước súc miệng không, để tôi vệ sinh răng miệng đã? Tôi bốc mùi kinh quá...”
Người y tá đưa cho ông một thanh kẹo cao su. “Chúc ngon miệng.”
Ông ngồi trên băng ca, nhai kẹo cao su, đợi taxi đến.
ĐƯỢC BÀN GIAO cho Công ty taxi Beverly Hills tiếp quản, Richard tiến vào bóng đêm Los Angeles. Bầu tròi sáng nhờ nhờ khi ánh sáng từ từ nhuộm lại bầu khí quyển, dấu hiệu một ngày mói sắp đến. Ông ngồi ở yên sau, cửa lánh hạ xuống, thò đầu ra hứng gió như một chú chó. Gã tài xế đang ba hoa như một tay bartender gàn, luyên thuyên nói những chuyện nhăng cuội. “Vậy - ông bị gì đấy, nhậu nhiều quá, bị xe tông, đạp đinh, sạn thận, bị nện bằng báng súng?”
Ông không ưả lời; ông không có bổn phận phải “trình báo” với tài xế taxi.
“Được thôi, cứ giữ bí mật đi, xem tôi có quan tâm không. Ai cũng nghĩ họ có quyền giũ bí mật cho riêng mình. Họ biết cái gì chứ? Bởi vậy mói đau ốm đấy, toàn bệnh dễ sợ thôi - khối u, viêm ruột kết, ung thư. Tôi thì cứ ruột để ngoài da, tôi cần gì phải giữ bí mật nào? Cứ hỏi tôi bất cứ chuyện gì.”
Richard không trả lòi. Ông không hỏi.
“Thôi được rồi, vậy để tôi nói cho ông nghe đôi điều về chuyến đi này của chúng ta - những người có vấn đề, đó mới là những người ở ngoài đường giờ này; đó là những người làm việc chăm chỉ như tôi đang cật lực kiếm tiền, hoặc là những thằng điên thức trắng đêm để làm những chuyện chỉ có Chúa mói biết là gì.”
Ông nghe tiếng thằng bé trong phòng cấp cứu vang vang trong đầu - Ta là Chúa.
“Giờ này giao thông chia thành hai phần, chứ không phải là hai hướng đâu nhé. Có người dậy sớm và có kẻ thức khuya, không thể là hai loại nào khác, giao nhau trên đường. Có những cô em đi tập thể dục và mấy thằng điên giờ này mói về nhà.”
Phía trước họ, như trong phim quay chậm, một chiếc xe tăng tốc qua ngã tư, suýt đâm phải một chiếc xe khác, xoay nửa vòng, rồi lại tăng tốc lao đi. Trong tích tắc, Richard nhìn vào mắt của gã tài xế lúc bấy giờ đã nhũn như con chi chi; gã liếc nhìn ông, chết điếng, đầu ngúc ngoắc như bị động kinh.
“Chắc là nhạc sĩ rồi. Bọn họ là thế đấy, có biết lái xe đâu. Nhạc sĩ và ngưòi Mexico không nên ôm vô-lăng. Họ và mấy ông bà già - không nên cho ngưòi già ra đường. Còn phụ nữ nữa, phụ nữ là những tay lái tệ nhất...” Ông nhìn những tòa nhà đang lướt qua: những tòa nhà thấp tè, nâu nhạt, nâu đất, xanh lá cây, đất đỏ, những màu để ngụy trang, che phủ dưới đất. Tòa nhà này nối tiếp tòa nhà khác, hàng cây số nối tiếp nhau những cửa hàng xe ô-tô, phòng tập yoga, cửa hàng điện thoại di động, cửa hiệu tóc giả, điểm rửa xe, tiệm làm tóc, cửa hàng đồ nội thất.
Họ chạy ngang qua một cửa hàng có bảng hiệu bằng đèn neon màu cam - “Donuts.” Một ánh sáng màu kem ấm áp phát ra từ cửa sổ. Họ lướt qua cửa hàng đó, và khi nó khuất tầm mắt, Richard ước gì xe dừng lại. Ông không thể về nhà, chưa phải lúc này, không nhanh như thế này. Ồng cần một phút để suy nghĩ đầu đuôi mọi chuyện, để sắp xếp trật tự mọi sự kiện.
“Thật ra thì,” gã tài xế lại nói tiếp, “hầu hết mọi người không nên cầm vô-lăng. Chuyện lái xe nên để cho chuyên gia làm. ”
Ông chồm về trước. “Tôi cần phải quay lại.”
Gã phớt lờ ông.
“Tôi mói nhớ ra mình để quên một thứ.”
Vẫn không có phản hồi.
“Xin lỗi,” ông nói. “Tôi muốn quay lại.”
“Quay lại bệnh viện à?”
“Không, đến tiệm bánh donut1 chúng ta mới băng qua cách đây mười dãy nhà.”
Gã tài xế tiếp tục lái xe. “Ông muốn tôi quay lại ư?”
“Vâng,” ông đáp.
“Vậy ông không muốn tôi lái lên Sunset à?”
“Không, tôi muốn quay lại tiệm bánh donut đó.”
“Ông chỉ chạy vào rồi ra ngay, hay tôi thả ông xuống đó?”
“Tôi không biết, tại sao?”
“Tôi chỉ muốn biết sẽ thả ông xuống hay chờ ông. Đáng lẽ tôi phải đua ông về nhà - đó là lý do họ gọi chúng tôi, đưa người ta về nhà.”
“Tôi đói bụng, ở nhà lại không có ai, vì vậy nếu không phải tôi đang bị áp tải hay gì khác, thì tôi nghĩ mình có quyền xuống xe tại một tiệm bánh donut chứ.”
Gã tài xế quay đầu xe. “Ông không phải là người bị tiểu đường đang tìm cách tự tử hay gì đấy chứ hả?” Ông không trả lời.
“Thôi được, vậy cho tôi biết đi. Ý tôi là, cho tôi biết là ông chỉ vào rồi ra ngay hay sao.”
“Anh muốn ăn gì không? Nếu tôi vào rồi quay ra, anh có muốn ăn gì không?”
“Không, tôi nghĩ là không,” gã đáp. “À, có thể là một tách cà phê, và, ông biết đấy, nếu họ có cái gì không ngọt quá, bánh donut lạt, vài cái bánh donut lạt chẳng hạn, chỉ vậy thôi. Hoặc nếu họ có loại phết nhân, loại bánh phồng với chocolate ở trên đấy, tôi sẽ ăn hai cái.” Khi xe dừng lại ả tiệm bánh donut, Richard nói, “Tôi nghĩ tôi sẽ xuống xe ở đây. Nếu anh có thể cho tôi xuống xe, được vậy thì tốt quá.”
“Vậy có nghĩa là ông sẽ không mua cà phê cho tôi ư?” “Có chứ, tôi sẽ vẫn mua cà phê cho anh. Tôi sẽ chạy vào, mua cà phê cho anh, rồi tôi sẽ quay lại ngay.” Ông bước xuống xe. “Chẳng phải anh nên tắt đồng hồ tính tiền sao?”
“Chừng nào ông quay về rồi tính.”
“Vậy, về cơ bản, tôi sẽ trả tiền cho anh để được làm một việc là mua cà phê cho anh?”
“Này,” gã tài xế nói, “đừng bắt đầu ngày mới một cách cò kè như vậy chứ. ”
Tiệm bánh donut vắng hoe. Người đàn ông đứng sau quầy mỉm cười.
“Tôi cần một thứ cho gã ở ngoài kia - một cà phê và hai donut nổi, phết chocolate.”
“Anhil,” người đàn ông nói, chìa tay ra.
“Richard,” ông đáp, bắt tay anh ta, ngạc nhiên trước sự chào đón thân mật.
“Sữa và đường?”
“Sao lại không.” Ông móc ví ra.
Anhil lắc đầu. “Để lát nữa.”
Richard đem donut ra cho gã tài xế. Đồng hồ tính tiền vẫn đang chạy. “Tôi thiếu anh bao nhiêu?”
Gã nhấp một ngụm cà phê; đồng hồ nhảy lên số cao hon. Tiền cước trên đồng hồ là chín đô-la hai mưoi cent. “Cứ tính là mười đô đi,” gã nói.
“Tôi có nên trừ tiền donut và cà phê không?”
“Cứ coi đó là một phần tiền boa.”
Bầu trời có màu xám than bạc thếch.
ONG MUỐN dùng gì?” Anhil hỏi khi Richard quay trở lại tiệm bánh.
Richard đứng ở cửa sổ, nhìn ra chiếc taxi đỗ ngoài đường, gã tài xế đang ăn donut, và - sao nhỉ? - đang đợi ông chăng? Gã chỉ ngồi đấy để chọc tức ông, hay là gã chảng hiểu ất giáp gì nên đành ngồi đấy?
“Tâm trí ông đang ở bên ngoài. Mời ông vào đây ngồi xuống uống cà phê,” Anhil nói.
“Tôi không hiểu. Tại sao tay ấy ngồi đấy? Khi nãy thì không chịu dùng xe, giờ thì lại ngồi đấy ăn donut.”
“Donut là như thế mà. Ông muốn dùng gì?”
Richard ngồi lên một chiếc ghế đẩu và nhìn Anhil. “Cà phê.”
“Không donut?" Anhil hỏi.
“Cũng được, donut luôn.”
“Loại nào?”
“Loại donut ngon nhất của anh.”
Anhil rót cà phê và đặt một chiếc donut xuống trước mặt Richard với lễ nghi đon giản nhất. “Còn ấm đấy,” Anhil tự hào nói.
Có điều gì đó ở Anhil khiến Richard không còn thấy bục bội với gã tài xế. Tiệm bánh donut toát lên một vẻ thanh khiết; nội thất ốp gỗ mang vẻ xưa cũ thật, đèn màu vàng nhạt, tủ bánh lắp kính dày. Khung cảnh trông như thập niên 1940.
Cà phê của Anhil đen nóng, thom lừng, kết họp hoàn hảo với chiếc bánh donut chín đều tuyệt đối: nâu vàng, dày nhưng không nặng, không quá ngọt.
Richard nhắm mắt và hít một hoi.
“Ông nghĩ sao?”
“Thiên đường,” ông đáp, mỏ mắt ra. “Tối qua tôi chưa ăn tối.”
“Ông có muốn ăn trứng không?”
“Tôi không thấy món trứng trên thực đon của anh.”
“Như thế đầu có nghĩa là tôi không thể làm món trứng. Sao tối qua ông không ăn tối?”
Không hề định trước, ông trút tâm sự về chuyện tối qua: “Tôi bị đau khủng khiếp, tôi vào bệnh viện, họ tưởng tôi bị đau tim.” Ông nói rất to, như cách người ta thường nói khi trò chuyện với một người mà tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ. Ông vỗ lên ngực, làm như Anhil không biết tim nằm ỏ đâu.


No comments: